Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

ĐI TÌM NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VIÊM DA TIẾT BÃ


Viêm da tiết bã: Biểu hiện và nguyên nhân
Viêm da tiết bã là một bệnh lý cần dùng thuốc, chứ không phải là da nhờn do tuyến bã tiết nhiều chỉ khắc phục tạm thời bằng mỹ phẩm. Viêm da tiết bã là một bệnh da mãn tính do vi nấm Pityrosporum ovale gây nên. Bệnh thường gặp ở người da nhờn, tuổi mắc nhiều nhất là từ 20-50. Tuy nhiên cũng thường gặp ở trẻ sơ sinh vào những tháng đầu của cuộc sống, với vị trí thương tổn ở da đầu mà dân gian hay gọi bệnh cảnh này là “cứt trâu”.

ĐI TÌM NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VIÊM DA TIẾT BÃ
Viêm da tiết bã

Biểu hiện viêm da tiết bãỞ thanh thiếu niên và người lớn: bắt đầu bằng những vảy mỡ nhờn ở da dầu kèm nổi hồng ban và đóng vảy ở vùng rãnh môi - mũi hoặc vùng da sau tai. Cũng có ở vùng khác như: vùng lông mày, vùng râu mọc, vùng dưới vú, chỗ nếp gấp vùng thân, trên ngực, có khi cả ở giữa mặt. Có khi dạng hình cánh hoa, kèm theo có sần nang lông và quanh nang lông màu đỏ nâu, có khi dạng hình vẩy phấn, thành từng dát và mảng khắp người như vảy phấn hồng. Ở trẻ nhỏ: vùng đỉnh đầu sẽ có đóng vảy nhờn như mỡ nhưng không gây ngứa, không gây nứt, rịn nước (như viêm da cấp), vẩy có màu trắng, trắng xám hay vàng, hay xuất hiện vào tuần thứ 3 - 4 sau sinh. Tuy dễ nhận thấy, nhưng những dấu hiệu này cũng làm nhầm sang một số bệnh khác (như vẩy nến, chàm thể tạng, nấm tóc, nấm candida, mụn trứng cá).
Nguyên nhân viêm da tiết bã
Chưa hoàn toàn sáng tỏ song có nhiều giả thiết có tính thuyết phục:
Do thiếu, rối loạn hormone: bằng chứng: viêm da tiết bã và vẩy phấn da dầu thường gặp ở lứa tuổi rất nhỏ (10% ở trẻ trai, 95% ở trẻ gái). Trẻ dưới 3 tháng mắc nhiều, giảm nhanh khi 1 tuổi, giảm chậm hơn trong 4 tuổi tiếp theo, rồi hết hẳn. Bệnh lại tái hiện rầm rộ ở tuổi trưởng thành (có tỷ lệ cao hơn ở người lớn tuổi). Ứng với thời kỳ mắc nhiều là thời kỳ thiếu hay rối loạn hormone.
Do nấm : bằng chứng: ở nơi có chủng nấm Malsssezia tăng sinh mạnh, thì ở đó có viêm da tiết bã (theo Mastrolonardo M - 2003, Schwartz RA- 2004). Loài nấm này thường chiếm ưu thế ở những vùng có nhiều tuyến bã (đầu thân, lưng trên). Dùng kháng nấm chống lại sự tăng sinh của vi nấm, bệnh được cải thiện (Heng MC -1990).
Do suy giảm miễn dịch : bằng chứng: một số bệnh làm suy giảm miễn dịch ở trẻ nhỏ hay suy giảm miễn dịch do AIDS làm bệnh dễ xuất hiện (DunicI - 2004).
Do nguồn gốc thần kinh : bằng chứng: bệnh thường biểu hiện dưới dạng vẩy da đầu (gàu) hoặc hồng ban ở vùng nếp gấp mũi, môi trong giai đoạn bị stress, mất ngủ. Tìm thấy một số mối liên hệ giữa viêm da tiết bã với bệnh Parkinson, động kinh, chấn thương hệ thần kinh trung ương, liệt dây thần kinh mặt, bệnh rỗng tủy sống do các thuốc liệt thần kinh gây ra kèm theo chứng ngoại tháp, các rối loạn thần kinh khác, bao gồm sau tai biến mạch máu não. Tuy nhiên, chưa tìm thấy chất dẫn truyền thần kinh gây bệnh.

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2012

PHÒNG TRÁNH VIÊM DA TIẾT BÃ













Nguyên nhân


Chưa hoàn toàn sáng tỏ song có nhiều giả thiết có tính thuyết phục:


Do thiếu, rối loạn hormone: bằng chứng: viêm da tiết bã và vẩy phấn da dầu thường gặp ở lứa tuổi rất nhỏ (10% ở trẻ trai, 95% ở trẻ gái). Trẻ dưới 3 tháng mắc nhiều, giảm nhanh khi 1 tuổi, giảm chậm hơn trong 4 tuổi tiếp theo, rồi hết hẳn. Bệnh lại tái hiện rầm rộ ở tuổi trưởng thành (có tỷ lệ cao hơn ở người lớn tuổi). Ứng với thời kỳ mắc nhiều là thời kỳ thiếu hay rối loạn hormone.




Do nấm: bằng chứng: ở nơi có chủng nấm Malsssezia tăng sinh mạnh, thì ở đó có viêm da tiết bã (theo Mastrolonardo M - 2003, Schwartz RA- 2004). Loài nấm này thường chiếm ưu thế ở những vùng có nhiều tuyến bã (đầu thân, lưng trên). Dùng kháng nấm chống lại sự tăng sinh của vi nấm, bệnh được cải thiện (Heng MC -1990).


Do suy giảm miễn dịch: bằng chứng: một số bệnh làm suy giảm miễn dịch ở trẻ nhỏ hay suy giảm miễn dịch do AIDS làm bệnh dễ xuất hiện (DunicI - 2004).


Do nguồn gốc thần kinh: bằng chứng: bệnh thường biểu hiện dưới dạng vẩy da đầu (gàu) hoặc hồng ban ở vùng nếp gấp mũi, môi trong giai đoạn bị stress, mất ngủ. Tìm thấy một số mối liên hệ giữa viêm da tiết bã với bệnh Parkinson, động kinh, chấn thương hệ thần kinh trung ương, liệt dây thần kinh mặt, bệnh rỗng tủy sống do các thuốc liệt thần kinh gây ra kèm theo chứng ngoại tháp, các rối loạn thần kinh khác, bao gồm sau tai biến mạch máu não. Tuy nhiên, chưa tìm thấy chất dẫn truyền thần kinh gây bệnh.


Biểu hiện


Viêm da tiết bã có một số dấu hiệu:


Ở thanh thiếu niên và người lớn: bắt đầu bằng những vảy mỡ nhờn ở da dầu kèm nổi hồng ban và đóng vảy ở vùng rãnh môi - mũi hoặc vùng da sau tai. Cũng có ở vùng khác như: vùng lông mày, vùng râu mọc, vùng dưới vú, chỗ nếp gấp vùng thân, trên ngực, có khi cả ở giữa mặt. Có khi dạng hình cánh hoa, kèm theo có sần nang lông và quanh nang lông màu đỏ nâu, có khi dạng hình vẩy phấn, thành từng dát và mảng khắp người như vảy phấn hồng.


Ở trẻ nhỏ: vùng đỉnh đầu sẽ có đóng vảy nhờn như mỡ nhưng không gây ngứa, không gây nứt, rịn nước (như viêm da cấp), vẩy có màu trắng, trắng xám hay vàng, hay xuất hiện vào tuần thứ 3 - 4 sau sinh.


Tuy dễ nhận thấy, nhưng những dấu hiệu này cũng làm nhầm sang một số bệnh khác (như vẩy nến, chàm thể tạng, nấm tóc, nấm candida, mụn trứng cá).


Một số điểm chung về thuốc


Thuốc điều trị viêm da tiết bã hướng vào việc chống lại các nguyên nhân trên (xem chi tiết các loại thuốc ở dưới).


Thuốc thường dùng ngoài, dưới dạng dầu gội đầu hay dạng bôi trên da, ở nồng đô thấp, ít lần trong tuần, nên ít gây hại. Cần chọn lựa kỹ lưỡng, tránh dùng nhầm qua dạng có nồng độ cao hơn (chỉ dành dùng cho bệnh khác). Với riêng corticoid cần thận trọng, chỉ dùng trên vùng mặt viêm tiết bã khi có chỉ định của thầy thuốc da liễu.


Thuốc kháng viêm


Viêm da tiết bã vùng da đầu ở người lớn thường khởi đầu điều trị bằng một corticoid hoặc một chất ức chế canxi - thần kinh (cakcineurin) tại chỗ. Chúng thường dùng dưới dạng dầu gội đầu, cream, lotion.


- Dầu gội chứa corticoid: thường dùng loại dầu gội chứa fluocinolon.


- Cream bôi tại chỗ: thường dùng loại cream chứa các chất fluocinolon, betamethason, desonid. Hay dùng nhất là desonid, đó là một corticoid không có fluor (hydroxyprednisolon acetonid) có hoạt tính chống viêm, chống ngứa và ức chế quá trình sinh tổng hợp ở biểu bì và bì rất mạnh. Dùng trong viêm da tiết bã (và một vài bệnh khác như: eczema do tiếp xúc, viêm bì không điển hình liken hóa). Trong viêm da tiết bã thường dùng ở nồng độ thấp (0,05%).


- Chất ức chế calcineurin: thường dùng mỡ tacrolimus, cream pimecrolimus. Các chất này có tính kháng viêm, diệt nấm và không có nguy cơ làm giảm sức đề kháng của da và teo da như các corticoid. Có khi chúng cũng được dùng kết hợp với corticoid bôi tại chỗ. Hai thuốc này được dùng hàng ngày trong viêm tiết bã ở vùng mặt, vùng tai. Chỉ dùng dưới dạng thuốc bôi. Cần phân biệt với tacrolimus dạng thuốc uống hay truyền tĩnh mạch (dùng với mục đích chống thải loại trong ghép thận).


Thuốc chống nấm


Thường dùng chất chống nấm phổ rộng ketoconazol (dạng gel), mỗi ngày một lần, kết hợp với corticoid (desonid) mỗi ngày một lần, kéo dài trong hai tuần.


- Dầu gội chứa ketoconazol dùng cho viêm tiết bã da đầu, mỗi tuần dùng 3 lần cream (dạng gel) ketoconazol có thể dùng kết hợp với desonid tại chỗ trong viêm tiết bã da mặt, mỗi ngày một lần, dùng trong 2 tuần.


- Dầu gội selenium sulfid: có tính kháng nấm phổ hẹp. Dùng cho viêm tiết bã da đầu (và bệnh khác như lang ben) với dịch treo có nồng độ thấp 2 - 3%. Cách dùng: dùng nước nóng thấm ướt tóc. Lắc kỹ dịch treo và đổ vào lòng bàn tay 1 - 2 thìa cà phê dịch treo xát nhẹ vào da dầu (không làm dây vào mắt). Để 2 - 3 phút rồi gội đầu bằng nước sạch. Làm lại như trên một lần nữa. Dùng 2 - 3 lần như thế mỗi tuần.


Ngoài các chất trên, có thể dùng các thuốc kháng nấm tại chỗ fluconazol hay ciclopirox hoặc dùng thuốc kháng nấm uống terbinafin.


Chất tiêu sừng


Chất tiêu sừng (keratolytic) là các chất được dùng trong các phác đồ điều trị viêm da tiết bã cổ điển. Đó là những chất có tính tiêu sừng, nhưng không có tính kháng nấm như: acid salicylic, pyrithion. Riêng pyrithion - zinc vừa có tính tiêu sừng, vừa có tính kháng nấm (nhưng không kháng nấm đặc hiệu).


- Acid salicylic: làm tiêu lớp sừng trên da, dùng dưới dạng dầu gội đầu cho viêm da đầu tiết bã mỗi tuần 2 – 3 lần, hay bôi lên viêm da tiết bã ở vùng da khác mỗi ngày 2 - 3 lần.


- Pyrithion - zinc: là dẫn chất mercapto - pyridin. Vừa có tính tiêu sừng vừa có tính kháng nấm. Trong viêm da đầu tiết bã nhờn, dùng dạng dầu gội 1,7%, nên để dầu gội trên tóc ít nhất là 5 phút cho dầu gội thấm vào da đầu, mỗi tuần có thể gội 2 lần. Trong viêm da tiết bã nhờn, dùng dạng nhũ tương 0,5%, mỗi tuần 2 - 3 lần. Loại này có thể dùng cho vùng da mặt nhưng không được làm dây vào mắt.


Viêm da tiết bã có tần số mắc cao, đặc biệt ở trẻ nhỏ, tuổi trưởng thành, người có các bệnh thần kinh liên quan. Tuy nhiên, người bệnh ít khám, có khi nhầm là do tuyến bã tăng hoạt động làm cho da nhờn, tự khắc phục tạm thời bằng mỹ phẩm. Đúng ra, bệnh cần được khám tại chuyên khoa da liễu, phải điều trị bằng dược phẩm.


BỆNH VIỆN DA LIỄU QUỐC GIA










Bệnh Viện Da liễu Trung ương là BV chuyên khoa đầu ngành về Phong - Da liễu có chức năng:


Nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực, làm công tác chỉ đạo tuyến về chuyên ngành Phong và Da liễu trong phạm vi toàn quốc.


Là tuyến cao nhất khám chữa bệnh chuyên khoa, phòng bệnh và phục hồi chức năng cho nhân dân thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố lân cận.


Bệnh Viện Da liễu Trung ương có các nhiệm vụ:


1. Nghiên cứu mô hình bệnh tật, các phương pháp chẩn đoán, điều trị, dự phòng và phục hồi chức năng các bệnh thuộc chuyên ngành bệnh Phong và Da liễu:


a. Nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng những tiến bộ khoa học để phục vụ khám chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng:


Nghiên cứu mô hình các bệnh da, xây dựng các phương pháp điều trị và phương hướng phòng bệnh chuyên khoa.


Nghiên cứu các đề tài về bệnh Phong: Dịch tễ, các yếu tố có liên quan đến lây bệnh, các ph­ương pháp điều trị và phòng chống tàn tật, phục hồi chức năng góp phần loại trừ bệnh phong tiến tới thanh toán hoàn toàn bệnh Phong.


Nghiên cứu mô hình các bệnh lây truyền qua đường tình dục, liên quan của các bệnh này với nhiễm HIV/AIDS.


Nghiên cứu và tham gia nghiên cứu các bệnh da do môi trường, nghề nghiệp, đề xuất các biện pháp phòng tránh.


Nghiên cứu, triển khai ứng dụng các phư­ơng pháp điều trị mới: Bằng vật lý trị liệu, phẫu thuật chỉnh hình, thẩm mỹ cho mọi đối tượng có nhu cầu.


Nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật, phác đồ điều trị các bệnh da liễu áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc.


Nghiên cứu triển khai các kỹ thuật hiện đại phục vụ nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh:­ Sinh học phân tử, miễn dịch, dị ứng...


Nghiên cứu, thử nghiệm, pha chế, sản xuất các dạng thuốc bôi phù hợp với thực tế Việt Nam.


b. Chủ trì và tham gia công trình nghiên cứu khoa học các cấp.


c. Tổ chức các Hội nghị khoa học cấp Viện, trong khu vực tại Viện.


d. Tổ chức các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học phối hợp trong nước và với nước ngoài theo sự phân công.


2. Đào tạo cán bộ


a. Là cơ sở thực hành về chuyên khoa Da liễu của các trường Đại học Y Hà Nội,một số trường Đại học, Cao Đẳng, Trung học Y, Dược.


b. Tham gia đào tạo cán bộ chuyên khoa ở bậc Sau đại học, Đại học, Cao đẳng, Trung học.


c. Đào tạo lại và đào tạo nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức, viên chức trong Viện và các cơ sở khác có nhu cầu.


d. Nhận các thực tập sinh nước ngoài đến học tập, nghiên cứu tại Viện.


e. Biên soạn, in ấn báo chí và tạp chí chuyên ngành, phát hành các tài liệu chương trình đào tạo của Viện.


3. Công tác khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng


a. Là tuyến cao nhất tiếp nhận, khám, chữa bệnh chuyên khoa cho bệnh nhân ở tuyến dưới gửi lên: Phẫu thuật chỉnh hình cho bệnh nhân phong bị tàn tật; thực hiện điều trị bằng các phư­ơng pháp vật lý trị liệu, Laser, UVA, UVB... phục hồi chức năng, phẫu thuật chăm sóc da thẩm mỹ cho các đối tượng có nhu cầu.


b. Phối hợp với các cơ sở y tế khác khám sức khoẻ cho các đối tượng đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài và kết hôn với người nước ngoài.


c. Khám, chữa bệnh chuyên khoa cho người nước ngoài.


d. Tham gia khám giám định y khoa theo yêu cầu của các Hội đồng Giám định y khoa trên cơ sở phân cấp của Bộ Y tế.


e. Phục hồi chức năng sau điều trị và phục hồi chức năng cộng đồng.


f. Phối hợp với các cơ sở y tế trên địa bàn để phát hiện và dập tắt dịch.


g. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Bộ Y tế.


4. Chỉ đạo tuyến


a. Giúp Bộ tr­ưởng Bộ Y tế chỉ đạo về chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực chuyên ngành, ph­ương hư­ớng, kế hoạch, biện pháp phát triển mạng lưới chuyên khoa trên phạm vi toàn quốc.


b. Chuyển giao và hỗ trợ các kỹ thuật chuyên môn cho tuyến trước.


c. Chỉ đạo, hỗ trợ tuyến d­ưới tổ chức các chương trình, dự án: phòng chống bệnh phong, bệnh lây truyền qua đường tình dục, bệnh da nghề nghiệp...


d. Phối hợp với các cơ quan trong và ngoài ngành y tế để thực hiện truyền thông giáo dục sức khoẻ.


5. Hợp tác quốc tế


a. Chủ động khai thác, thiết lập mối quan hệ hợp tác, trao đổi kinh nghiệm và trao đổi chuyên gia về khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ với các cơ sở khám chữa bệnh; xây dựng các dự án đầu tư liên doanh, liên kết với các nước và các tổ chức quốc tế về dịch vụ y tế theo quy định của pháp luật.


b. Xây dựng kế hoạch đoàn ra, đoàn vào theo chư­ơng trình hợp tác với Viện; cử các cán bộ đi học tập, nghiên cứu ở n­ước ngoài; nhận các giảng viên, học viên là ngư­ời n­ước ngoài đến nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm và học tập tại Viện; quản lý đoàn ra, đoàn vào trong phạm vi hoạt động của Viện theo quy định của Bộ Y tế.


c. Tổ chức các hội nghị, hội thảo, các lớp học quốc tế về các lĩnh vực thuộc phạm vi của Viện quản lý theo quy định của pháp luật.


ĐIỀU TRỊ VIÊM DA TIẾT BÃ

Bài viết liên quan : Đặc Trị Viêm Da Tiết Bã

YẾU TỐ NGUY CƠ TRONG VIÊM DA TIẾT BÃ


ĐIỀU TRỊ VIÊM DA TIẾT BÃ



Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định một số yếu tố nguy cơ trong viêm da tiết bã (VDTB) và mối liên quan của các yếu tố này với tình trạng của bệnh
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 69 bệnh nhân bệnh da đến khám tại phòng khám dịch vụ của BVDL Tp. HCM từ tháng 5/07 đến 8/07.

NGUYÊN NHÂN VIÊM DA TIẾT BÃ


YẾU TỐ NGUY CƠ TRONG VIÊM DA TIẾT BÃ



NGUYÊN NHÂN VIÊM DA TIẾT BÃ


Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định một số yếu tố nguy cơ trong viêm da tiết bã (VDTB) và mối liên quan của các yếu tố này với tình trạng của bệnh
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 69 bệnh nhân bệnh da đến khám tại phòng khám dịch vụ của BVDL Tp. HCM từ tháng 5/07 đến 8/07.
Số liệu được phân tích bằng phần mềm  SPSS version 11.0, Test λ2  với khoảng tin cậy 95% và tính tỷ suất chênh (OR: Odds ratios).
Kết quả: 66.7% bệnh nhân nam tuổi từ 14 – 78 tuổi, nghề nghiệp phân bố khá đồng đều giữa nhóm lao động chân tay (39.1%) và nhóm lao động trí óc (37.7%) và đa số sống tại thành phố (68.1%). 71% bệnh nhân VDTB tái phát, bệnh nhân bị tái phát nhiều nhất là khi độ ẩm, khí hậu thay đổi (42.9%), thương tổn chủ yếu ở mặt và da đầu và 46.4% bệnh nhân ngứa nhiều. 3.1% bệnh nhân soi tìm nấm có M.furfur tại thương tổn. Có mối liên hệ giữa yếu tố chuyển mùa và số lần tái phát. Những người tái phát trên 5 lần, thì nguy cơ tái phát khi chuyển mùa của những người này cao gấp 6.6 lần so với những người bị tái phát từ 5 lần trở xuống (p<0.05). Những yếu tố khác chưa thấy có ảnh hưởng khác nhau có ý nghĩa giữa hai nhóm bệnh nặng và nhẹ cũng như trong nhóm bị tái phát khác nhau.
Kết luận: Căn nguyên VDTB chưa biết rõ nên việc điều trị còn gặp khó khăn, đặc biệt hay tái phát nên nhiều yếu tố đã được nghiên cứu để tìm những yếu tố nào có thể tăng khả năng tiên đóan tái phát của bệnh. Nghiên cứu này cho thấy yếu tố chuyển mùa làm tăng nguy cơ tái phát VDTB. Chúng tôi hy vọng tương lai sẽ nghiên cứu với cở mẫu lớn hơn và chi tiết hơn để có thể thấy thêm một số mối liên hệ khác trên bệnh nhân VDTB
từ đó có thể giúp đề ra một số giải pháp nhằm hạn chế tái phát và độ nặng của bệnh.

I GIỚI THIỆU
Viêm da tiết  bã  là bệnh mạn tính và phổ biến, ảnh hưởng từ 2% - 10% ở người lớn, chủ yếu từ 20 – 50 tuổi. Bệnh nhiều hơn ở nam, ở những người có rối loạn hệ thống thần kinh trung ương (như bệnh Parkinson, liệt tòan thân,…) và người suy giảm miễn dịch. Bệnh thường ảnh hưởng nhiều đến da đầu, chân mày, tai, nếp má mũi, nách, bìu và bẹn.
Căn nguyên của viêm da tiết  bã (VDTB) hiện không rõ. Thay đổi chức năng của hệ thống miễn dịch có thể là tác nhân gây bệnh.10 Vùng nhiều bã nhờn của cơ thể thuận lợi cho các nấm men ưa mỡ như Malassezia furfur (trước đây gọi Pityrosporum ovale) phát triển. Vai trò của M furfur trong viêm da tiết bã không được biết rõ, tuy nhiên nó được thừa nhận rộng rãi là yếu tố làm nặng lên và cũng không nhất thiết phải tìm thấy yếu tố này2,7,11. Có giả thuyết là sự bất động của những bệnh nhân có bệnh lý thần kinh có thể có vai trò trong việc làm nặng lên của bệnh do gây tăng tiết bã thuận lợi cho M furfur phát triển dễ dàng8.
Viêm da tiết  bã  là vấn đề xã hội đáng quan tâm, hàng năm trên thế giới người ta đã tiêu tốn nhiều tiền cho dầu gội đầu và những chất khác để lọai trừ vấn đề này9.  
Theo số liệu khảo sát của the National Ambulatory Medical Care Survey (NAMCS) trên bệnh nhân ngọai trú của các bác sĩ không thuộc chính quyền liên bang tại Mỹ từ 1996-1999 cho thấy viêm da tiết  bã  là 5577171 đối tượng4 những số liệu thu thập đã phần nào cho thấy mức độ nhiều của bệnh tại Mỹ. Theo số liệu thống kê tại bệnh viện Da Liễu thì  tỷ lệ viêm da tiết bã trên lượt bệnh nhân đến khám bệnh da trong năm 2006 là 1.8% (7696/432510) và 9 tháng 2007 là 2.1% (7326/343571), đây là bệnh gây khó chịu cho bệnh nhân và cả bác sĩ do tỷ lệ tái phát cao và còn nhiều vấn đề bàn cải trong điều trị. Trên thế giới đã và đang có nhiều nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau của viêm da tiết bã để hiểu rõ hơn về căn nguyên của bệnh cũng như lựa chọn giải pháp điều trị tối ưu cho tình trạng này. Mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định một số yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng tái phát và độ nặng của viêm da tiết bã ở bệnh nhân đến khám tại khoa khám bệnh bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh (BVDL Tp. HCM ), từ đó có thể giúp đề ra một số giải pháp nhằm hạn chế tái phát và độ nặng của bệnh.

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu tổng quát
Xác định một số yếu tố nguy cơ trong viêm da tiết bã và mối liên quan của các yếu tố này với tình trạng của bệnh
2. Mục tiêu chuyên biệt
-  dịch tể và lâm sàng của bệnh nhân viêm da tiết bã tại BVDL
- đặc tính ở bệnh nhân bị  tái phát viêm da tiết bã
- Mối liên hệ giữa một số yếu tố và số lần tái phát
- Mối liên hệ giữa một số yếu tố và tình trạng viêm da tiết bã

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2. Dân số nghiên cứu: Bệnh nhân bệnh da đến khám tại phòng khám dịch vụ của BVDL Tp. HCM từ tháng 5/07 đến 8/07.
3. Phương pháp chọn mẫu:
* Tiêu chuẩn chọn vào: Bệnh nhân viêm da tiết bã đến khám tại phòng khám dịch vụ của BVDL Tp. HCM đồng ý tham gia vào nghiên cứu và có khả năng nghe – hiểu – trả lời câu hỏi.
* Tiêu chuẩn loại:
Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu.
4. Phương pháp thu thập số liệu:
* Cách thu thập số liệu:
- Khám và chẩn đoán viêm da tiết bã dựa vào các dấu hiệu lâm sàng. (Thương tổn da màu trắng xám hoặc đỏ cam thường kèm với dát và sẩn tróc vảy bã hoặc trắng khô với kích thước khác nhau, bờ giới hạn khá rõ, mày dính và ở các nếp, trên da đầu thường gọi gàu. Hình tròn hoặc đa cung, rải rác ở mặt và thân, lan tỏa ở da đầu. ..)
- Độ nặng của viêm da tiết bả dựa vào lâm sàng: nhẹ (vảy ít, ở rìa da đầu); nặng (vảy lan rộng, dính cứng, thành mảng).
- Xét nghiệm: cạo tìm nấm ở da đầu, trên da
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng dựa vào bảng thu thập số liệu.
* Công cụ thu thập số liệu:
- Bảng thu thập số liệu: hỏi bệnh sử, khám lâm sàng và kết quả cạo tìm nấm ...
- Người thu thập số liệu: một số BS tại phòng khám dịch vụ BV Da Liễu Tp. HCM
5. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
- Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm  SPSS version 11.0
- Test λ2  để kiểm định mức ý nghĩa thống kê của mối liên quan giữa các biến, với khoảng tin cậy 95% (CI 95%), và tính tỷ suất chênh (OR: Odds ratios).

IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
69 bệnh nhân VDTB đủ tiêu chuẩn được thu nhận tại khoa khám bệnh theo yêu cầu của Bệnh Viện Da Liễu (BVDL) từ tháng 5/07 đến 8/07, những bệnh nhân không được đưa vào nghiên cứu gồm những bệnh nhân không đủ tiêu chuẩn  và cả những bệnh nhân VDTB không do chúng tôi khám.
Bảng 1 cho thấy bệnh nhân nam chiếm đa số 66.7%, tuổi từ 14 – 78 tuổi, trung bình 36.9 tuổi, nghề nghiệp phân bố khá đồng đều giữa nhóm lao động chân tay (39.1%) và nhóm lao động trí óc (37.7%) và đa số sống tại thành phố (68.1%). 71% bệnh nhân VDTB tái phát, có người mới bị tái phát một lần có người bị nhiều lần, thậm chí trên 20 lần và thời gian bị VDTB cũng khác nhau từ vài tháng đến 12 năm, trung bình 2.4 năm, tháng khởi phát bệnh đầu tiên thường vào mùa mưa (từ tháng năm đến tháng mười). 15.9% bệnh nhân hiện tại có bệnh khác kèm theo nhưng không phải nhóm bệnh lý thần kinh, 4/5 bệnh nhân VDTB là thể nhẹ, chủ yếu thương tổn ở mặt và da đầu và 46.4% bệnh nhân ngứa nhiều. Tỷ lệ rất thấp (3.1%) bệnh nhân soi tìm nấm có M.furfur tại thương tổn.

Bảng 1: Đặc điểm dịch tể và lâm sàng của bệnh nhân viêm da tiết bã tại BVDL
Đặc tính
n
%
Giới tính
               Nam
               Nữ

46
23

66.7
33.3
Nghề nghiệp
                    Già, thất nghiệp
                    Lao động chân tay
                    Lao động trí óc

16
27
26

23.2
39.1
37.7
Địa chỉ
            Thành phố Hồ Chí Minh
            Tỉnh

47
22

68.1
31.9
Tháng khởi phát
                           Mùa nắng (tháng 11-4)
                           Mùa mưa (tháng 5-10)
                           Không nhớ

18
29
22

26.1
42
31.9
Lâm sàng
               Nhẹ
               Nặng

55
14

79.7
20.3
Vị trí thương tổn
                           Đầu và mặt
                           Mặt
                           Đầu, mặt và da
                           Mặt và tai
                           Đầu và tai
                           Đầu                        

27
16
15
7
2
2

39.1
23.2
21.7
10.1
2.9
2.9
Ngứa
          Không ngứa hoặc ít
          Nhiều

37
32

53.6
46.4
Cạo tìm nấm
                     Đầu (n= 46)
                     Da (n= 63)

0
2

0
3.1
Bệnh kèm theo (không phải bệnh lý thần kinh)
11
15.9
Tái phát viêm da tiết bả
49
71

Bảng 2 cho thấy đa số bệnh nhân tái phát vào mùa nắng (34.7%),  bệnh nhân bị tái nhiều nhất là khi độ ẩm, khí hậu thay đổi (42.9%), kế đến do chuyển mùa 32.7%, do stress 28.6% và do tình trạng mệt mỏi của cơ thể 24.5%. Ở đây chưa thấy bệnh nhân tái phát sau chấn thương, 18.8 % bệnh nhân tái phát khi đang dùng những lọai thuốc khác và yếu tố di chuyển đường xa hoặc đi du lịch trên bệnh nhân tái phát thấp (6.1%).

Bảng 2: Một số đặc tính ở bệnh nhân bị  tái phát viêm da tiết bã (n = 49*)
Đặc tính
n
%
Tổng trạng mệt mỏi
12
24.5
Thay đổi độ ẩm, khí hậu
21
42.9
Di chuyển đường xa, du lịch
3
6.1
Chuyển mùa
16
32.7
Chấn thương
0
0
Stress
14
28.6
Thuốc đang dùng
13
18.8
Tháng tái phát
                        Mùa nắng (tháng 11-4)
                        Mùa mưa (tháng 5-10)
                        Thường xuyên
                        Bất kỳ
                        Không nhớ

17
12
4
3
13

34.7
24.5
8.2
6.1
26.5
* Khảo sát trên những bệnh nhân bị tái phát trong những người thu nhận vào nghiên cứu

Khi khảo sát mối liên hệ giữa một số yếu tố về dịch tể và lâm sàng với tình trạng tái phát, bảng 3 cho thấy ở những người tái phát trên 5 lần thì nữ (80%) nhiều hơn nam (55.9%) nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, giữa các nhóm tuổi tỷ lệ người tái phát trên 5 lần cũng không khác nhau giữa các nhóm và điều này cũng thấy trong yếu tố nghề nghiệp và địa chỉ. Khi xét yếu tố chuyển mùa thì thấy có sự khác biệt rõ giữa nhóm bị tái phát trên 5 lần (45.2%) với nhóm bị tái phát từ 5 lần trở xuống (11.1%) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0.05). Mặc dù các yếu tố tổng trạng mệt mỏi, thay đổi độ ẩm hoặc khí hậu, stress thấy ở nhóm tái phát trên 5 lần bị ảnh hưởng nhiều hơn so với nhóm tái phát từ 5 lần trở xuống nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Giữa hai nhóm tái phát ít và nhiều không có khác nhau về ảnh hưởng của các yếu tố như di chuyển đường xa, đi du lịch và thuốc đang dùng.



Bảng 3: Mối liên hệ giữa một số yếu tố và số lần tái phát (n = 49*)
Yếu tố
Tái phát > 5 lần
Tái phát ≤ 5 lần
P
OR
95% CI
n
%
n
%
Phái
          Nam
          Nữ

19
12

55.9
80



0.107



Tuổi
            14 – 24
            25 – 35
            35 – 45
             > 45

10
11
3
7

71.4
68.8
42.9
58.3


0.575


Nghề nghiệp
       Già, thất nghiệp
       Lao động chân tay
       Lao động trí óc

7
12
12

70
63.2
60


0.866


Địa chỉ
              TP. HCM          
              Tỉnh

19
12

61.3
66.7


0.707


Tổng trạng mệt mỏi
10
32.3
2
11.1
0.097


Thay đổi độ ẩm, khí hậu
15
48.4
6
33.3
0.305


Di chuyển đường xa, du lịch
2
6.5
1
5.6
0.9


Chuyển mùa
14
45.2
2
11.1
0.014
6.59
1.3 -33.7
Stress
10
32.3
4
22.2
0.453


Thuốc đang dùng
6
19.4
4
22.2
0.810


* Khảo sát trên những bệnh nhân bị tái phát trong những người thu nhận vào nghiên cứu

Nghiên cứu này cho thấy tình trạng VDTB nặng xảy ra ở nữ nhiều hơn nam, nhóm tuổi từ 25 – 35 tuổi bị VDTB nặng nhiều nhất (31.6%), và điều này cũng thấy ở bệnh nhân lao động chân tay và bệnh nhân ở tỉnh. Mặc dù tình trạng VDTB nặng nhiều nhất ở những nhóm bệnh nhân này nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0.05), điều này thấy trong bảng 4. Bảng 4 cũng cho thấy yếu tố chuyển mùa và stress trong nhóm bệnh nặng bị ảnh hưởng nhiều hơn so với nhóm bệnh nhẹ nhưng sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê. Những yếu tố khác như tình trạng tái phát, tổng trạng mệt mỏi, thay đổi độ ẩm hoặc khí hậu, di chuyển đường xa và đi du lịch không có ảnh hưởng khác nhau giữa hai nhóm bệnh nặng và nhẹ.




Bảng 4: Mối liên hệ giữa một số yếu tố và tình trạng viêm da tiết bã (n=69)
Yếu tố
VDTB nặng
VDTB nhẹ
p
n
%
n
%
Phái
          Nam
          Nữ

7
7

15.2
30.4


0.138
Tuổi
            14 – 24
            25 – 35
            35 – 45
             > 45

4
6
2
2

22.2
31.6
13.3
11.8


0.432
Nghề nghiệp
       Già, thất nghiệp
       Lao động chân tay
       Lao động trí óc

3
7
4

18.8
25.9
15.4


0.625
Địa chỉ
              TP. HCM           
              Tỉnh

8
6

17
27.3


0.324
Tái phát
11
78.6
38
69.1
0.485
Tổng trạng mệt mỏi
3
27.3
9
23.7
0.807
Thay đổi độ ẩm, khí hậu
5
45.5
16
42.1
0.843
Di chuyển đường xa, du lịch
1
9.1
2
5.3
0.641
Chuyển mùa
5
45.5
11
28.9
0.304
Stress
4
36.4
10
26.3
0.516
Thuốc đang dùng
2
18.2
8
21.1
0.385

V BÀN LUẬN và KẾT LUẬN
Điều chính yếu tìm thấy trong nghiên cứu này là có mối liên hệ giữa yếu tố chuyển mùa và số lần tái phát, bệnh nhân càng tái phát nhiều lần thì ảnh hưởng của yếu tố chuyển mùa càng rõ. Những người tái phát trên 5 lần, thì nguy cơ tái phát khi chuyển mùa của những người này cao gấp 6.6 lần so với những người bị tái phát từ 5 lần trở xuống. Điều này cũng thấy trong nghiên cứu của Aditya Gupta khi ông nghiên cứu về dịch tể VDTB tại Mỹ4 và trong một bài báo khác của Aditya K. Gupta và cộng sự cũng ghi nhận bệnh xuất hiện ảnh hưởng bởi mùa như thương tổn xấu đi trong suốt mùa đông ngược lại ánh nắng mặt trời dường như cải thiện các biểu hiện lâm sàng của bệnh1.
Ngòai ra nghiên cứu còn cho thấy nam bị VDTB nhiều gấp 2 lần nữ, điều này cũng phù hợp với y văn có thể do ảnh hưởng của androgen lên đơn vị nang lông tuyến bã3. 
Nguyên nhân VDTB chưa biết, nhưng có nhiều yếu tố được đưa ra có thể đóng góp vào sự phát triển của rối lọan này, trong đó yếu tố nấm men Malassezia xem như đi kèm với bệnh chứ không đóng vai trò gây bệnh như trong lang ben3. Trong nghiên cứu này tỷ lệ M.furfur rất thấp 3.1%, do chúng tôi chỉ soi tươi không cấy. Malassezia có 9 chủng khác nhau và phân bố cũng không giống nhau trên các vùng của cơ thể cũng như trong các bệnh khác nhau và còn tùy thuộc chất lượng của cấy, mặc khác với mẫu nhỏ nên nghiên cứu này chưa nói lên được điều gì về mối liên hệ của nấm men Malassezia với tình trạng viêm da tiết bã.
Nghiên cứu này còn nhiều hạn chế, thứ nhất mẫu quá nhỏ nên một số bệnh khác đi kèm với viêm da tiết bã như bệnh Parkinson, tổn thương cột sống5 chưa phát hiện trong nghiên cứu này. Mặt khác một số yếu tố như tổng trạng mệt mỏi, thay đổi độ ẩm hoặc khí hậu và stress thấy có ảnh hưởng khác nhau giữa hai nhóm tái phát trên 5 lần và tái phát từ 5 lần trở xuống nhưng mẫu nhỏ nên chưa thấy được sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm này.
Thứ hai là một số thông tin ghi nhận trong bảng thu thập số liệu có tính chủ quan, lại chỉ tập trung trong một số nhỏ bệnh nhân nên chưa có tính đại diện cho tình trạng viêm da tiết bả tại thành phố Hồ Chí Minh.
Mặc dù có những hạn chế trên nhưng nghiên cứu này cũng cho thấy nam bị nhiều hơn nữ và yếu tố chuyển mùa ảnh hưởng nhiều đến tình trạng tái phát của bệnh nhân. Viêm da tiết bã, gàu ảnh hưởng đến bề ngòai của bệnh nhân gây cho họ không ít mặc cảm và phần nào mất tự tin trong công việc và tự nó cũng tạo ra một stress mới và tạo thuận lợi cho viêm da tiết bã tái phát. Khi chuyển mùa có thể có một số thay đổi về tình trạng miễn dịch, dinh dưỡng, môi trường và lối sống nên ở thời điểm này bệnh nhân hay bị tái phát càng dễ tái phát hơn. Từ đó trong điều trị viêm da tiết bã ngoài những can thiệp về thuốc chúng ta cần tham vấn để bệnh nhân hiểu biết rõ về VDTB và tự họ có thể điều chỉnh phần nào để tránh những xáo trộn về dinh duỡng, lối sống, tình trạng miễn dịch khi chuyển mùa.
Viêm da tiết  bã  là bệnh mạn tính và phổ biến, ảnh hưởng từ 2% - 10% ở người lớn, chủ yếu từ 20 – 50 tuổi, họ là những lao động chính của xã hội nên cũng là một vấn đề mà xã hội quan tâm. Căn nguyên chưa biết rõ nên việc điều trị còn gặp khó khăn, đặc biệt hay tái phát nên nhiều yếu tố đã được nghiên cứu để tìm những yếu tố nào có thể tăng khả năng tiên đóan của bệnh. Trong nghiên cứu này cho thấy yếu tố chuyển mùa làm tăng nguy cơ tái phát VDTB của những người hay tái phát. Chúng tôi hy vọng tương lai sẽ nghiên cứu với cở mẫu lớn hơn và chi tiết hơn để có thể thấy thêm một số mối liên hệ khác trên bệnh nhân viêm da tiết bã tại thành phố Hồ Chí Minh giúp có thể hạn chế tình trạng tái phát.

Cảm ơn
Các tác giả chân thành cảm ơn Khoa khám  bệnh, phòng Kế Hoạch Tổng hợp và Khoa Xét Nghiệm của Bệnh Viện Da Liễu Tp. HCM, đã giúp đở và cung cấp số liệu cho chúng tôi trong nghiên cứu này.
Các tác giả chân thành cảm ơn phòng nghiệp vụ Y  Sở Y Tế Tp. HCM và Ban Giám Đốc Bệnh Viện Da Liễu Tp. HCM đã hỗ trợ kinh phí để thực hiện nghiên cứu này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Aditya K. Gupta, Roma Batra,. Dawson Skin diseases associated with Malassezia species. J Am Acad Dermatol 2004;51:785-98
2. A.K. Gupta, K. Nicol and R. Batra, Role of antifungal agents in the treatment of seborrheic dermatitis, Am J Clin Dermatol 5 (2004), pp. 417–422.
3. AK Gupta, R Bluhm. Seborrheic dermatitis JEADV 2004; 18: 13-26.
4. Aditya K. Gupta. Epidemiology of seborrheic dermatitis as observed from the National Ambulatory Medical Care Survey 1990-1999. J Am Acad Dermatol 2007;52 (3), Supplement 1, March 2005, Page P103
5. C.L. Wilson and M. Walshe, Incidence of seborrhoeic dermatitis in spinal injury patients. Br J Dermatol 119 (1988), p. s48

6. Erin M. Warshaw, Ross Jon Wohlhuter, An Liu, Sarah A. Zeller, Rachel A. Wenner, Sacharitha Bowers, Julie C. Schultz, H. Irving Katz, Calogera L. McCormick and Anne Parneix-Spake. Results of a randomized, double-blind, vehicle-controlled efficacy trial of pimecrolimus cream 1% for the treatment of moderate to severe facial seborrheic dermatitis, J Am Acad Dermatol 2007;57:257-64
7. M.E. Parry and G.R. Sharpe, Seborrheic dermatitis is not caused by an altered immune response to Malassezia yeast, Br J Dermatol 139 (1998), pp. 254–263.
8. N.C. Cowley, P.M. Farr and S. Shuster, The permissive effect of sebum in seborrheic dermatitis: an explanation of the rash in neurological disorders, Br J Dermatol 122 (1990), pp. 71–76
9. PechereM, KrischerJ, RemondatC, et al. Malassezia spp. carriage in patients with seborrhoeic dermatitis. J Dermatol 1999; 26: 558–561.
10. R.J. Hay and R.A. Graham-Brown, Dandruff and seborrheic dermatitis: causes and management, Clin Exp Dermatol 22 (1997), pp. 3–6.
11. S.H. Mirza, M.A. Khan and M. Ahsan-ul-Haq, Role of Malassezia yeast (pityrosporum) in seborrheic dermatitis (sd), J Coll Physicians Surg Pak 15 (2005), pp. 771–773.
12. Fitzpatrick’s. Color atlas & Synopsis of Clinical Dermatology; p .49-51